Tôi Đi Học Thiền Tánh Không

  Hôm nay, nhân dịp lễ Thượng Nguyên, chúng tôi tới chùa tham dự lễ, bà xã tôi được ban Quản Trị chùa Từ Ân trao cho tập Bản Tin. Sau buổi lễ về đến nhà thì bà xã tôi cho xem thông báo về khoá thiền Tánh Không và buổi thuyết pháp do Ni Sư Triệt Như hướng dẫn, sẽ được tổ chức tại chùa từ ngày 5 tới 13 tháng 9.

Phản ứng của tôi lúc đó là chỉ “ờ … ờ” cho xong chuyện. Về tới nhà bà xã tôi lại hỏi, “Anh có biết ông Trương Công Nghiã không”. Tôi trả lời là biết, bởi ông ta là em của ông Trương Công Hiếu (người mà tôi đã có dịp quen biết trong những công tác cộng đồng tại Ottawa trước đây).

Qua ngày hôm sau, bà xã tôi lại cho biết là đã ghi danh cho vợ chồng chúng tôi theo học khoá thiền này, và còn nói rằng, “Em đã đọc qua nhiều bài giảng của Ni Sư, do bạn bè email tới, và cảm thấy rất là hay và còn thật là khoa học nữa. Không mang tính chất “mê tín dị đoan” như có thể tìm thấy trong một số bài giảng khác.

Nghe tới đây thì tôi lặng thinh, không biết phải nói thế nào. Mặc dù nghe bà xã tôi nói rất có lý, nhưng tôi vẫn thấy ngại, có lẽ vì những thành kiến cố hữu của tôi đối với việc học thiền. Trong bụng tôi đã bắt đầu đánh lô tô, dù còn tới 7 tháng nữa lớp mới khai giảng.

Tôi ngại, vì biết mình bình thường đã không thể ngồi yên một chỗ cho lâu đựơc. Ngoài ra , hình như tôi còn bị dị ứng với mấy thầy đặc biệt khác thường. Thật ra khi còn ở Việt Nam, tôi cũng đã đi học thiền với vài vị Thiền Sư danh tiếng. Nào là Thầy có Thần thông, trong lúc nhập định có thể nói chuyện “viễn liên” với nhau được, (chẳng hạn như từ Đà Lạt tới Vũng Tàu), nào là danh sư có thể thiền xuất hồn, để đi tới những thế giới xa lạ,..v.v… Ôi chao, nghe sao hấp dẫn quá… Nhưng tôi lại không học được với vị thầy nào quá năm ngày. Nếu không vì bị đuổi ra khỏi lớp, thì cũng do tự mình bỏ ngang.

Qua tới Canada, sau khi cuộc sống tạm ổn định, chúng tôi cũng tập tành đi học thiền, lần mò đi qua tận California để kiếm Minh Sư, nào là thiền theo tông phái Lâm Tế, Pháp Nhãn v..v.. thậm chí còn đi học cả thiền nhân điện, thiền dùng “Chú Đại Bi” để mở luân xa v…v…Trải qua bao nhiêu là môn phái, phương pháp tu học, nhưng khi soi gương thì, ôi thôi, vẫn thấy gương mặt mình nhỏ xíu mà cái ngã sao to lớn thế, bao trùm khắp cả vũ trụ!

Khi nêu những thắc mắc này với các Thầy, thì được các Thầy giảng dạy rằng, bởi chúng tôi chưa biết là chưa thông suốt kinh điển, nên chưa hiểu biết để mà đoạn trừ vọng tưởng. Những vọng tưởng này là những nghiệp chúng ta đã tích tạo trong vô số kiếp, và bây giờ khi ngồi thiền thì “A lại da thức” quay lại những dữ kiện này. Nếu muốn giải trừ “nghiệp” (hay những vọng tưởng này) thì ta chỉ nên ghi nhận, nén nó xuống, mà không nên đuổi theo hay ngay cả xua đuổi chúng. Thực hiện được như vậy trong lúc thiền, thì lâu ngày những vọng tưởng này sẽ bị lu mờ dần và không khởi nữa, v..v.. Ôi thôi bao nhiêu là phương thức, không biết đâu mà mò, giống như kẻ mù đi vào mê hồn trận vậy.

Rồi chuyện gì phải tới, đã tới. Khóa thiền Tánh Không bắt đầu. Biết tánh tôi hay lo, bà xã tôi dặn phải buông bỏ hết mọi thứ hiểu biết lờ mờ ngoài cổng chùa trước khi vào lớp học. Chí lý thay ! Đi học mà nghĩ rằng mình đã biết hết rồi thì còn học được gì.

Ngày thứ nhất, buổi sáng được nghe giảng về tiểu sử cũng như sự tích thành đạo của Đức Phật Thích Ca. May quá, sáng nay vì bận thành ra không tới lớp kịp, chứ không thì tôi đã trốn mất tiêu sau buổi giàng này, vì nghĩ rằng đề tài này còn dưới trình độ mình! Cái thành kiến này có lẽ đã có từ lúc tôi được nghe cố Hoà Thượng Thích Tâm Thanh giảng dạy kinh Pháp Hoa. Nhắc lại, lời Thầy như vẫn còn văng vẳng bên tai. Trong một buổi Thuyết pháp, ngài giảng rằng, … khi đi thi mà các Tăng Ni trình giáo án còn lấy sự tích Phật Thích Ca để khởi đầu cho giáo án, thì ngài sẽ cho hai con số zero ngay lập tức. Không biết Hoà Thượng có cao ý gì muốn chỉ dạy qua câu nói đó?, nhưng tôi lại nghĩ, vì Hòa Thượng cho rằng những giáo án đó có trình độ quá thấp!

Chiều lại chúng tôi được giảng dạy những cách thiền. Trước tiên là hơi thở, “hít vào, tôi biết tôi hít vào, thở ra, tôi biết tôi thở ra”. Vào – ra – vào – ra… Giữ sự chú tâm trong vùng dưới lỗ mũi và trên môi. Tập chưa đươc 10 hơi thở là tôi đã từ thiền đường … ngao du về đến nhà, ra tận Phi Trường, bay thẳng về đến Việt Nam, quê hương tôi lớn lên. Rồi chẳng cần máy bay hay phi thuyền, tôi vẫn … bay sang Mỹ, Pháp, Úc… Khi ý thức được cái tâm bay lang thang của mình, tôi lại kéo nó về với hơi thở. Vào – ra – vào – ra, chưa được một phút lại lo không biết trong hãng có chuyện gì không, chiều nay về ăn gì, mấy chậu cây mà ông bạn cho hôm trước có bị cháy nắng hay khô nước không. v..v… Đủ thứ hầm bà lằng kéo về trong cái tâm hay lăng xăng của mình. Nhưng chừng được 10 phút thì cái tâm không lang thang nữa, nó về với … hai cái chân đang tê dần, đau đớn, khổ sở. Những giây phút cuối của 15 phút ngồi thiền trôi qua thật nặng nề. Tôi cứ nhúc nhích, cựa quậy, rồi he hé mắt nhìn người chung quanh để cái tâm tò mò, hơn – thua, tham đắm, chê bai trỗi dậy… Cuối cùng tiếng chuông báo hết giờ – tiếng chuông “giải thoát” – cũng đến. Tôi thở phào nhẹ nhõm.

Nhắc đến tiếng chuông, ôi tiếng chuông sao thật là êm ái, làm cái đầu cứ gục tới gục lui, như tán thưởng âm thanh thật thanh thản này…. Rồi lại nhìn tượng Phật trong chánh điện, cũng như nhìn khoảng chân không trước tượng Phật, chăm chú được một lúc thì thấy đầy hào quang xoay chuyển… Tới lúc hiểu ra, thì là tại hai cặp mắt lệch lạc (mắt lé), ngó chân không, không ngó, mà lại ngó hào quang của tượng Phật tỏa ra …Tiếp theo đó là thư giãn lưỡi, rồi đi hành thiền. Chao ôi! tưởng là dễ, mà sao lại khó quá chừng, tâm vừa tỉnh giác một chút, thì xém té và đụng vào người đi trước, làm cho mình chỉ lo chú ý tới bước chân người đi trước… Trước khi kết thúc một ngày thiền, lại còn thực tập khí công nữa.

Đến ngày thứ hai, chúng tôi lại được nghe giảng dạy tiếp về Phật Pháp, cũng như thực hành các lối thiền đã học qua, và bắt đầu nghe những câu “tánh biết có lời, tánh biết không lời”. Thế là trong đầu lại lăng xăng nghĩ, “Tánh biết” có phải “tánh biết” trong Kinh Lăng Nghiêm hay không?, nhất là khi thực hành “nghe tiếng chuông” thì liền nghĩ đến “Quán Âm Viên Thông”… Ôi thôi thật là hấp dẫn…cứ thế mà khi thực thành thì lại thấy mình đi du hý bồng lai tiên cảnh….

Đến ngày thứ ba, lại thực tập ngồi thiền với “tánh biết không lời”, tâm luôn bình an, tỉnh giác…mà không so sánh, chê bai, đối kháng. Sau đó là được nghe một buổi pháp “Sinh Học của Thiền”, làm sao mà nhận biết được mình thiền đúng hay sai… Nào là giao cảm thần kinh hay đối giao cảm thần kinh nó sẽ có lợi lạc hay tác hại đến thân thể của mình… À, À … “Eureka “, thì ra là vậy , xưa nay ta cứ kiếm ở đâu…. Đây đúng là phương thức ”tánh biết không lời”, để thực tập “Pháp môn không hai”, như trong kinh Duy Ma Cật nói đến “Khi Ngài DUY MA CẬT lặng thinh mà đức Văn Thù tán thán rằng: “Hay thay! Hay thay! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là vào pháp môn không hai”, hay nụ cười của Tổ Ma Ha Ca Diếp khi thấy Đức Phật giơ cành Hoa Sen cho đại chúng xem… Với tôi thì phương pháp thực hành này đúng là “ngón tay chỉ mặt trăng”.

Đến ngày thứ tư và thứ năm, mỗi ngày càng thêm thích thú và hấp dẫn, nào là “ngũ uẩn giai không”, nào là thực hành thêm những thế mới lạ của khí công để trị bịnh, nào là những chứng minh khoa học cho phương pháp thiền “Tánh Không” v…v.. Và lại tiếp tục thực hành thiền định… Trong hai ngày này, mặc dù lúc ngồi thiền vẫn còn thỉnh thoảng “bị đằng vân” đi du hý bồng lai tiên cảnh, nhưng với phương pháp “tánh biết không lời “ nó đã làm cho những cuộc du hý này bị gián đoạn ngay trong lúc mới khởi hành …”

Học được gi?

Gian khó là thế, đau đớn là thế, kém cỏi là thế…! Thế mà khi được hỏi đã học được gì qua khóa thiền này, tôi không ngần ngại trả lời: Được, được nhiều thứ lắm!

Đó là những bài Kinh Phật, những lời hướng dẫn hành thiền cụ thể, rõ ràng, và đầy chi tiết trong mỗi thời gian ngồi thiền. Ni sư Triệt Như đã giảng những lời Phật dạy rất sâu sắc, với những ví dụ cụ thể, sinh động, và cách nói có tóm lược, lập lại ở cuối đoạn rất hiệu quả. Ni Sư không những là vị thiền sư mà còn là nhà tâm lý, nhà sư phạm tài ba.

Đó là sự an nhiên tự tại, tâm từ bi của Ni sư, luôn luôn giải đáp những thắc mắc (dù đôi khi có những câu hỏi không nằm trong khuôn khổ của khoá học). Với nét mặt luôn luôn hoan hỷ, giọng nói đầy từ ái, Ni Sư lúc nào cũng chỉ dẫn cụ thể từng li từng tí. Hôm chia tay, những lời từ tốn của Ni sư khuyên răn đại chúng làm cho tôi cảm thấy xấu hổ cho “cái ngã mạn” của mình.

Khóa thiền học Tánh Không đã đạt được kết quả tốt đẹp còn nhờ sự chu đáo, tận tụy của anh chi Trương Công Nghiã, qua việc tổ chức hết sức “khoa học”. Anh chị vừa là người lo phương tiện di chuyển cũng như nơi tá túc cho Ni Sư, và vừa là người xắp xếp mọi việc mọi thứ cho được tròn trong tròn ngoài. Đó là sự chịu khổ chịu khó, lau dọn chùa, phòng ăn, phòng vê sinh, nấu nước, lau chén của một số thiền sinh với tâm từ luôn rộng mở.

Ôi! Có bài học nào cao quý hơn!
Ottawa, tháng 10 năm 2013
Chơn Hộ Pháp